Jump to content
  • Chatbox

    You don't have permission to chat.
    Load More

    Sáu Câu Chuyện Cười Ẩn Chứa Những Bài Học Thâm thúy Về Cuộc Sống

    Vanes
    By Vanes,
    Bài học 1: Anh chồng bước vào phòng tắm ngay sau khi vợ anh vừa tắm xong và có tiếng chuông cửa reo. Cô vợ vội vàng quấn khăn tắm quanh người và chạy ra mở cửa. Cửa mở và anh chàng hàng xóm Bob đang đứng đó. Cô chưa kịp nói lời nào thì Bob đã nhanh nhảu: “Tôi sẽ đưa cho cô 8 triệu nếu cô gỡ chiếc khăn tắm ra.” Sau khi suy nghĩ và đắn đo một hồi, cô vợ gỡ chiếc khăn tắm và đứng trước mặt Bob không mảnh vải che thân. Sau vài giây, Bob đưa cô 8 triệu và ra về. Cô vợ quấn lại chiếc khăn quanh người và bước vào phòng tắm. Anh chồng hỏi: ” Ai thế em?” “Anh Bob ở nhà kế bên đó mà” cô vợ trả lời. “Àh” anh chồng nói tiếp “Thế Bob có đem trả anh 8 triệu anh ấy nợ anh không em?”. Bài học rút ra từ câu truyện: Nếu bạn chia sẻ mọi thông tin quan trọng liên quan đến tiền bạc và những rủi ro với cổ đông, đồng nghiệp và người thân của bạn đúng lúc, bạn có thể sẽ tránh được những tổn thất nghiêm trọng. Bài học 2: Một nhân viên bán hàng, một thư kí và một giám đốc cùng nhau ra ngoài ăn trưa. Họ bất ngờ phát hiện ra một chiếc đèn dầu cổ. Khi họ chà xát để lau chùi bụi bám lên chiếc đèn, thì bất ngờ Thần Đèn hiện ra. Thần Đèn nói: “Ta sẽ tặng các con mỗi người một điều ước. Ai trước nào?” “Con trước, con trước” cô thư kí lanh lẹ, “Con muốn được ở Bali lướt sóng mà không cần quan tâm, lo lắng đến bất cứ việc gì trên đời này!” Bùm.. Cô biến mất. “Con kế tiếp, con kế tiếp” anh nhân viên bán hàng nôn nóng, “Con muốn được nằm dài trên bờ biển Hawaii, có nhân viên mát xa riêng, uống thỏa thích cocktail cùng với người yêu của con.” Bùm.. Anh cũng biến mất. “Còn con?” Thần Đèn hỏi anh giám đốc, anh ước: “Con muốn 2 người đó quay lại phòng làm việc sau giờ nghỉ trưa.” Bài học rút ra từ câu truyện: Luôn luôn để sếp của bạn phát biểu trước. Bài học 3: Một vị linh mục cho một bà sơ quá giang. Bà sơ bước vào xe và vô tình làm rách áo choàng do bất cẩn bị vướng vào cửa xe, để lộ ra phần chân trắng nõn nà. Vị linh mục gần như mất kiểm soát tay lái khi nhìn thấy cảnh đó. Sau khi chấn tĩnh lại, ông lén lút để tay mình lên đùi bà sơ. Bà sơ phản ứng lại: “Cha à, Cha nhớ đoạn Psalm 129 trong Kinh Thánh chứ?”. Nghe vậy, vị linh mục bèn rút tay lại. Một lát sau, vị linh mục lại để tay lên đùi bà sơ một lần nữa. Bà sơ một lần nữa nhắc nhở: “Cha à, xin Cha nhớ đoạn Psalm 129 trong Kinh Thánh.” Vị linh mục phân trần: “Xin lỗi sơ, thân xác thật là yếu đuối.” Về đến tu viện, bà sơ xuống xe. Khi về đến nhà thờ, vị linh mục vội vã lật Kinh Thánh tìm câu Psalm 129. Nó có nội dung như sau: “Đi tới và tìm kiếm, tiến sâu hơn, con sẽ tìm thấy vinh quang.” Bài học rút ra từ câu truyện: Nếu bạn không giỏi và thông thạo công việc mình làm, bạn có thể đánh mất một cơ hội tốt. Bài học 4: Một con quạ đang đậu trên một cành cây và chẳng thèm làm gì nguyên ngày. Con thỏ thấy thế bèn hỏi: “Mình có thể ngồi một chỗ và không làm gì như bạn được không nhỉ?” Con quạ trả lời: “Được chứ, sao lại không.” Thế là con thỏ ngồi bên dưới cái cây con quạ đậu và nằm ngủ. Một lát sau, con cáo vồ tới con thỏ và ăn thịt nó. Bài học rút ra từ câu truyện: Để ngồi chơi hưởng lợi, bạn phải “ngồi” trên một vị trí rất cao. Bài học 5: Một con gà tây tán gẫu với con bò: “Mình rất thích leo lên được ngọn của cái cây kia.” gà tây thở dài, “Nhưng không đủ sức.” Con bò góp ý: “Vậy thử “nhấm nháp” chất thải của mình xem sao? Chúng chứa rất nhiều chất dinh dưỡng!” Gà tây gặm một miếng phân bò và đúng thật là nó cung cấp cho chú nhiều chất dinh dưỡng đủ để leo lên nhánh thấp nhất của cái cây đó. Ngày kế tiếp, sau khi thưởng thức thêm phân bò, gà tây leo lên được nhánh thứ hai. Cuối cùng sau bốn đêm leo trèo, gà tây đã chễm chệ ngồi trên ngọn cây cao nhất. Nhưng chưa tận hưởng được niềm vui chiến thắng bao lâu, gà tây đã bị bắn chết bởi người nông dân khi ông phát hiện ra nó. Bài học rút ra từ câu truyện: Những chuyện nhảm nhí, vô nghĩa (Bullshit) có thể đưa bạn lên đỉnh cao, nhưng nó sẽ không giữ bạn ở vị trí đó. Bại học 6: Chú chim nhỏ đang bay về miền Nam tránh rét. Trời quá lạnh đến nỗi chú lạnh cóng và rơi xuống khu đất của một nông trại. Khi chú chim đang nằm thoi thóp, một con bò đi ngang qua và vô tình thải phân của mình lên chú chim. Khi nằm trong đống phân bò, chú bắt đầu nhận ra phân bò thiệt là ấm! Chú chim nằm đó, ấm áp đầy hạnh phúc trong đống phân bò, và chú bắt đầu cất tiếng ca vì vui mừng. Một con mèo đi ngang nghe tiếng chim hót liền chạy tới thám thính. Đi theo âm thanh của tiếng hót, nó phát hiện ra chú chim trong đống phân bò. Nó kéo chú chim ra khỏi đống phân và ăn thịt. Bài học rút ra từ câu truyện: 1. Không phải tất cả những ai ném phân vào bạn đều là kẻ thù của bạn 2. Không phải tất cả những ai kéo bạn ra khỏi đống phân đều là bạn của bạn. 3. Và khi bạn đang ở sâu trong đống phân, điều hay nhất nên làm là khép miệng mình lại!

    Lời tỏ tình không lãng mạn

    Vanes
    By Vanes,
    Lời tỏ tình không lãng mạn Gửi con gái, Dường như tình yêu đầu tiên lại làm con mệt mỏi. Con loay hoay với những thứ váy áo mà con vốn không thích mặc. Bực bội với đôi mắt một mí "hàng độc" của mình. Bố thấy con buồn nhiều hơn là vui, con không tự tin khi là mình nữa. Đúng là thật dễ để "quyến rũ" một người, nhưng thật khó để người ấy biết rằng ta không hoàn hảo. Bố và mẹ đã yêu nhau được gần 30 năm. Mẹ từng là một cô gái được nhiều người để ý, mẹ đẹp và học giỏi. Nhưng tại sao mẹ lại chọn bố, một người không có gì đặc biệt? Có lần mẹ nói rằng, duy nhất bên bố, mẹ có thể biểu diễn điệu cười "khủng khiếp" của mẹ. Bởi mẹ biết bố yêu nụ cười ấy. Mẹ tự ti vì đôi bàn chân của mình, và vẫn thường đi những đôi giầy kín mu bàn chân. Nhưng bên bố, mẹ có thể cởi bỏ những đôi giầy cao gót rất điệu của mình và thu cả hai chân trần lên ghế. Bên bố mẹ có thể thực sự là mẹ, trên từng milimét vuông. Đó chính là sự tin cậy. Niềm tin cậy tạo nên bầu không khí an toàn để những tình cảm thân mật, âu yếm nảy sinh. Và những người yêu nhau có thể giao phó vào tay nhau cả quá khứ, hiện tại và tương lai của mình. Con có thể phải lòng hai người con không tin cậy, nhưng thật khó mà có thể chung sống với họ. Trong tình yêu, con phải được thật là mình. Mặc cho tất cả những mưu mẹo nho nhỏ chúng ta vẫn thử và có thể gây ấn tượng được với người ta yêu trong buổi ban đầu hò hẹn, thì tình thân mật gắn bó lại dựa trên những gì mà những người yêu nhau biết về nhau. Người ấy cần phải biết cái tôi thực của con - con như thế nào khi con mệt mỏi, tức giận, nản lòng, phấn chấn. Người ấy phải yêu con như con vẫn thế, chứ không phải yêu cái hình ảnh hoàn hảo mà người ấy hi vọng có ở nơi con. Con đã xem phim Nhật ký tiểu thư Jones rồi, đúng không? Có một cảnh mà Mark Darcy nói với "tiểu thư" Jones rằng "Anh thích em, như em vẫn vậy". Và cô ấy hoàn toàn bị chinh phục. Tại sao lại có thể có một phản ứng mạnh như vậy cho một câu "tỏ-tình-không-hề-lãng-mạn"? Bởi vì Mark nói với cô ấy rằng anh ta thật sự nhìn cô ấy và anh ta yêu những cái anh ta nhìn thấy. Anh ta không nói anh thích cô ấy gầy đi mười cân, ăn mặc cho lịch thiệp hơn chút nữa hay xinh hơn một chút. Anh thích cô ấy như cô ấy vẫn thế, vô điều kiện. Cô ấy không cần phải cố gắng để gây ấn tượng với anh ấy, bởi Mark thực sự bị gây ấn tượng rồi. Sự tin cậy không thể tự nhiên mà có, dù đó là hai người yêu nhau say đắm. Nó cần nhiều thời gian và nỗ lực. Hãy lắng nghe cậu ấy, tôn trọng cậu ấy cũng như ý kiến của cậu ấy, và chấp nhận cậu ấy như cậu ấy vẫn vậy. Và con sẽ được đền đáp công bằng. Giống như mẹ đã yêu bố như bố vẫn vậy. Biết mình được yêu vì con người thực của mình sẽ khiến con cảm thấy tình yêu thật sự là chốn thiên đường, nơi mà con có thể từ bỏ mọi "vũ khí". Nó cho phép con được thực sự là mình mà không hề phải lo sợ bị giễu cợt và chối bỏ. Điều đó tuyệt vời vô cùng. Chúc con được nghe lời-tỏ-tình-không-lãng-mạn: "Anh yêu em như em vẫn vậy!" Bố của con. xitrum.net

    Tia nắng, mảnh vỡ dạ quang và điện thoại di động

    Vanes
    By Vanes,
    Tia nắng, mảnh vỡ dạ quang và điện thoại di động Cơn mưa đêm qua đã làm cho bầu trời sáng nay trong xanh hơn. Những tia nắng vàng tung tăng đùa giỡn khắp nơi. Có một Tia Nắng Xanh tò mò dòm qua cửa sổ và rồi nó lách mình trượt xuống, giọt nước mưa còn đọng lại làm nó té nhào vào cái chậu sứ. Ở đây hơi tối và Tia Nắng Xanh ngạc nhiên bởi có một ánh sáng khác rất lạ, ánh sáng đó cũng màu xanh nhưng yếu ớt. Nó tiến đến gần hơn và nhận ra đây là một mảnh vỡ - một mảnh vỡ bằng đá dạ quang. Tia Nắng Xanh hỏi mảnh vỡ dạ quang: - Tại sao cậu lại ở đây... Mảnh vỡ rươm rướm nước mắt: - Tớ ở đây hơn hai năm rồi. Ngày xưa, tớ là một món quà lưu niệm tuyệt đẹp hình đôi tình nhân ngồi trên mặt trăng khuyết. Dường như không cần đợi tia nắng hỏi, mảnh vỡ lại nói tiếp: - Cách đây hơn 5 năm, tớ được một chàng trai mua ở tận Đà Lạt, tặng cho cô gái chủ nhân căn phòng này. - Ngày đó, chàng trai và cô gái yêu nhau lắm. Họ rất hạnh phúc, nhưng mẹ của chàng trai lại không thích cô gái. Mảnh vỡ lại nức nở. Tia Nắng Xanh đến thật sát mảnh vỡ, vỗ về, an ủi: - Thế tại sao cậu lại ra nông nổi thế này... - Có một hôm cô chủ tớ về nhà, vừa ùa vào phòng, cô đã khóc òa. Cô khóc liên tục suốt 4 tiếng đồng hồ. Dường như vì khóc quá nhiều, nên cô mệt lữ và thiếp đi ngay trên bàn làm việc… vô tình cô đã quơ tay trúng tôi và thế rồi tôi rớt xuống đất vỡ tan. - Tất cả mảnh vỡ kia được dọn đi, riêng tôi bị rớt vào cái chậu này. Và tôi đã ở đây, chứng kiến nhiều chuyện buồn vui của cô chủ tôi. Mảnh vỡ nói liên tục, cứ như là sợ tia nắng sẽ cướp lời mình vậy: - Đã hơn 2 năm kể từ khi họ chia tay, đến giờ tôi vẫn không thấy lại được nụ cười hạnh phúc và ánh mắt long lanh của cô chủ tôi nữa. Tôi rất muốn làm một cái gì đó cho cô ấy… - Tớ nghĩ là cậu đừng bao giờ để cô ấy nhìn thấy cậu nữa, bởi vì như thế sẽ khiến cô ấy nhớ lại rất nhiều chuyện của ngày xưa… cậu hiểu ý tớ nói chứ... – Tia Nắng Xanh thì thào bên tai mảnh vỡ. Vài giây trôi qua, mảnh vỡ lau nước mắt và nói: - Cậu giúp tớ chuyện này được chứ... - Tớ muốn phát sáng một lần cuối cùng, rồi tớ sẽ tan ra thật nhuyễn, để cô chủ có nhìn thấy cũng chỉ nghĩ tớ là một đống tro bụi mà thôi. Tia Nắng Xanh gật đầu chậm rãi… thời gian dường như trôi qua chậm hơn một cách bình thường. Tia Nắng Xanh gồng mình phát ra một thứ ánh sáng rất nóng, rất chói chang. Ánh sáng ấy ám vào mảnh vỡ. Và rồi khi tia nắng bay lên khỏi thành chậu thì cũng lá lúc mảnh vỡ tỏa ra một ánh sáng xanh thật xanh. Hơn một phút sau đó, mảnh vỡ mới tan ra. Và đâu đó trong không gian im ắng của căn phòng dội lại một âm thanh yếu ớt: “cô chủ ơi, hãy quên quá khứ đi và sống hạnh phúc nhé cô! ” Quay đầu đi, Tia Nắng Xanh bước đi thật chậm trên mặt bàn và ngồi bệch xuống, cậu không khóc nhưng trong cổ họng cậu nhói lên, nghẹn ngào. Tia Nắng Xanh lầm bầm: - Tình yêu là như thế sao... Nó đến thì khiến cho con người ta như bay bổng trên mây, nhưng khi ra đi, nó đem theo cả niềm tin, nụ cười và cả giấc mơ đi luôn hay sao... Bỗng đâu đó vang lên một giọng nói rất trẻ và trong veo: - Đúng vậy đó cậu bé con ạ. Giật mình, Tia Nắng Xanh ngó dáo dát xung quanh, thì phát hiện ra giọng nói đó phát ra từ chiếc điện thoại di động đặt trên bàn cách cậu khoảng hai gang tay. - Anh là ai... Tia Nắng Xanh thắc mắc hỏi. Điện thoại đi động mỉm cười trả lời: - Tôi chỉ là phương tiện liên lạc của chủ nhân căn phòng này thôi. Nhưng tôi hiểu rất rõ tình cảm của cô chủ tôi. - Cô chủ tôi bề ngoài sôi nổi, hoạt bát lắm. Nhưng bên trong thì cực kỳ yếu đuối. Cô ấy lúc nào cũng tỏ ra mạnh mẽ để người thân không phải lo lắng cho cô. - Không chỉ thế, cô có mối quan hệ rất rộng và được rất nhiều người yêu mến. Nhưng cũng từ lâu lắm rồi, tôi cũng không được nhìn thấy cô ấy cười, một nụ cười thật sự xuất phát từ trái tim. Hạ giọng thật nhỏ, điện thoại di động tiếp tục nói: - Cô chủ của tôi có thói quen lưu lại tất cả những tin nhắn mà nội dung là những lời động viên, quan tâm, yêu thương của bạn bè. Mỗi khi gặp khó khăn hay thử thách trong công việc là cô mở các tin nhắn đó ra đọc và mỉm cười mãn nguyện. - Dạo gần đây, tôi thấy cô ấy tạo một thư mục, đặt tên một chàng trai và tất cả tin nhắn của chàng trai ấy cô đều lưu ở đấy. - Nhưng thật là buồn, cô chỉ yêu mà không dám nói. Bởi cô sợ trái tim cô một lần nữa sẽ đau và cô sẽ phải khóc thật nhiều… - Bỗng dưng sáng sớm hôm nay, cô ấy đã xóa tất cả tin nhắn và xóa luôn thư mục đó. Có lẽ cô đã bỏ cuộc. Mà cũng có lẽ cô đang cố gắng để quên đi chàng trai đó. Vì có lần tôi nghe cô chủ nói, anh ấy như một con ngựa bất kham, làm sao ở bên anh ấy mà không khỏi bị tổn thương… Tia Nắng Xanh gật gù ra vẻ như hiểu được một cái gì đó đã thấu đáu và tường tận. Nó bay lên và đáp thật nhẹ xuống màn hình điện thoại di động. Và rồi nó nói thật to và rõ ràng: - Anh điện thoại di động ơi. Anh hãy phục hồi lại những gì cô chủ của anh vừa xóa đi. Để cô ấy cảm thấy tình yêu luôn mang điều kỳ diệu của riêng nó. Chiếc điện thoại run lên khe khẽ. Nó mỉm cười và restore tất cả những gì đã xóa sáng nay. Đúng lúc đó, cửa phòng mở ra, một cô gái bước vào. Cô tiến đến bàn làm việc, cầm chiếc điện thoại lên và cô mỉm cười thật tươi… - May mà mình chưa xóa, không thì lại tiếc hùi hụi cho mà coi. Tia Nắng Xanh nhảy lên cửa sổ và ngoáy đầu lại, khẻ chào các cư dân trong căn phòng bé nhỏ. Trong đầu nó đang nghĩ đến con đường mà nó sẽ đi để tìm chàng trai mà cô gái kia đã thầm yêu, nó sẽ nói cho chàng trai đó nghe tất cả những gì nó biết, để chàng trai hiểu rằng: “anh là người có thể làm trái tim của một người đã từng bị tổn thương trở lại nguyên vẹn như ban đầu”. (Viết trong đêm chủ nhật, 08. 04. 2007, sau chuyến đi Phú Yên – Mằng Lăng. Viết vì muốn tự động viên cho chính mình).

    Homophobia (Hội chứng ghê sợ xu hướng đồng tính luyến ái)

    Vanes
    By Vanes,
    Việc khám phá ra ảnh hưởng từ homophobia lên mọi tầng lớp xã hội sẽ giúp chúng ta khuyên giảm bớt- xét theo mặt lâu dài không chừng sẽ chấm dứt được- sự áp bức theo nhiều cấp độ.



    Tác giả: Warren J. Blumenfeld-Cambridge, Massuchusetts
    Dịch và sưu tầm ảnh: Patmol Black- Vũ Huy Lân LỜI MỞ ĐẦU

    Thường nghe, giữa phen hoạn nạn, ắt sẽ gặp chuyện may mắn xuất hiện ("Trong cái xui có cái hên"), đó cũng là kinh nghiệm tôi từng trải. Trong chuyến đi du lịch một mình xuyên qua Scandinavia vào một kì nghỉ hè, tôi đột nhiên bị mất đi khả năng thị giác ở cả hai mắt. Khi tới Đan Mạch, tôi đến bệnh viện khám, và sau nhiều đợt kiểm tra, một nhà vật lí trị liệu bảo với tôi rằng tôi cần phải mổ mắt gấp, và tôi nhập viện tại bệnh viện cộng đồng ở Copenhagen. Ngày hôm sau, em gái tôi, Susan, đáp chuyến bay tới Copenhagen ở với tôi suốt gần hai tháng.

    Mùa hè ấy, trên vùng đất phía bắc xa xôi, cùng với nỗi sợ hãi sẽ vĩnh viễn mất đi thị giác, tôi nằm trên chiếc giường bệnh chật chội, thương nhớ bạn bè cùng người thân ở quê nhà. Nhưng với Susan bên cạnh hết ngày này qua ngày khác, chia sẻ với tôi tình yêu thương, lòng dũng cảm cũng như óc khôi hài của cô ấy ( và nhất là món bánh Đan Mạch khoái khẩu), một điều quý giá đã xảy ra. Giữa những tiếng chuông ngân vang từ một nhà thờ cách đấy không xa, Susan và tôi lần đầu tiên có cơ hội tìm hiểu về nhau.

    Dù cùng chung sống dưới một mái nhà hơn mười bảy năm, nhưng giữa chúng tôi luôn tồn tại một sự căng thẳng thầm lặng, một bức tường vô hình ngăn cách chúng tôi ra xa nhau. Xê xích nhau đúng mười tám tháng tuổi, từ nhỏ tới lớn, chúng tôi theo học cùng trường, có cùng các nhóm bạn học. Vào những năm đầu đời, chúng tôi chơi với nhau khá thân. Chúng tôi có chung vài người bạn, và thường có thời gian chơi đùa cùng nhau mỗi ngày. Sự thân thiện ấy, tuy nhiên, cũng chóng kết thúc.

    Kể từ khi tôi lên bảy hay tám, tôi dần dà trở thành mục tiêu chọc ghẹo và hành hung của những người bạn cùng trang lứa, vì họ cho rằng tôi là một người khác thường. Những tên gọi miệt thị như pêđê, con gái, ẻo lả, bóng, được nhắm vào tôi như những trái banh đỏ mà đám trẻ ném vô nhau trên sân trường. Liên tục nhiều năm, tình hình ngày một tồi tệ hơn. Tôi cố tránh mặt mấy đứa trẻ khác, càng lúc càng tự cô lập mình. Susan và tôi xa cách từ dạo ấy.

    Chỉ vào đầu những năm hai mươi tuổi, khoảng thời gian tôi đi Đan Mạch, chúng tôi mới lại một lần nữa phát hiện ra nhau, cùng san sẻ những những chuyện riêng tư trong cuộc sống.
    Khi còn học cao đẳng, tôi phải gánh chịu nhiều áp lực gây ra bởi chứng Ghê sợ người đồng tính (homophobia), vì tôi là một người đồng tính nam, nhưng tận cho đến lúc nhập viện, tôi đã không biết được nó cũng ảnh hưởng Susan biết chừng nào khi lớn lên với tư cách là cô em gái dị tính luyến ái (heterosexual) của tôi.

    Thông minh, quyến rũ, dễ tính, dường như, ít ra thì dưới mắt nhìn của tôi, cô có khá nhiều bạn và dễ dàng hội nhập. Tuy nhiên, tại Đan Mạch, cô thừa nhận với tôi rằng, suốt những năm còn đi học, cô không ngừng bị bè bạn trêu chọc về thằng anh pêđê. Cô còn nhớ có lần bị mấy đứa con trai lớn tuổi hơn cười cợt, hỏi xem liệu cô có giống như anh trai mình không. Khi chứng kiến cảnh những đứa học sinh khác ăn hiếp tôi, áp lực từ đám bạn, kèm với sự lo lắng sẽ trở thành một mục tiêu chòng ghẹo, đã buộc cô phải giữ khoảng cách với tôi bằng cách tiếp lời cho những tiếng chửi rủa. Tôi đã cảm thấy mình như bị phản bội và căm phẫn cô vì chuyện này.

    Khoảng thời gian ở cùng nhau trong căn phòng bệnh đã cho chúng tôi cơ hội cần thiết để nhận dạng được các khúc mắt trong quá khứ. Qua nước mắt, những câu xin lỗi, sự điên tiết vì được nuôi dưỡng trong một môi trường gò bó, và hối hận vì đã mất đi nhiều thời gian đáng quý, chúng tôi bắt đầu tiến trình hàn gắn tình cảm. Rốt cuộc, sau chuyến nghỉ hè, thị giác không phải là thứ duy nhất được trao trả lại cho tôi.

    Công cuộc nghiên cứu này đại diện cho sự phát triển của hạt giống ý tưởng nảy mầm trong tâm trí tôi từ khi ở Đan Mạch. Nó xOay quanh một vấn đề chủ chốt: trong chính nội bộ của một sự áp bức, các thành viên thuộc nhóm mục tiêu (thường được gọi với cái tên "nhóm thiểu số") bị áp bức, trong khi ở một mức độ nào đó, thành viên thuộc nhóm đối lập cũng bị tổn hại. Dẫu mức ảnh hưởng có thay đổi tuỳ thuộc vào từng nhóm xác định, cuối cùng thì, tất cả cũng đều phải trả giá.

    Hầu hết mỗi người chúng ta trong cùng một lúc có thể thuộc vào nhiều nhóm khác nhau, ví dụ như, dựa trên tính cách cùng sức khỏe cá nhân, dựa trên năng lực cùng giá trị tầng lớp, dựa trên cả đặc điểm văn hóa, chủng tộc và tôn giáo. Chúng ta có thể ở trong nhóm mục tiêu, gánh chịu đàn áp, và nhóm nổi trội với tương đối nhiều quyền lực và tiếng tốt hơn. Bằng cách khảo sát các ích lợi cũng như bất lợi nhận được, ta sẽ có thể đồng cảm được với các cá thể khác với chúng ta và từ đó tạo được cầu nối liên kết.

    Quyển sách này, vì thế, thật sự viết về tình đoàn kết: giữ gìn và hỗ trợ cho các mối quan hệ đang hiện hữu đồng thời cũng góp phần gầy dựng nên các sự đồng minh mới mà trước đây chưa từng tồn tại- mà đặc biệt là liên kết giữa Đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính luyến ái, những người chuyển đổi giới tính, và dị tính luyến ái.





    Nhóm thiểu số về giới tính chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi homophobia như thế nào?

    Nhóm giới tính thiểu số - đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính luyến ái và chuyển giới- nằm trong số các nhóm bị ghét bỏ nhiều nhất tại Mỹ hiện nay. Lạ lùng thay, khi mà tình yêu của sự giống nhau (đồng tính trong đồng tính luyến ái - homo trong homosexuality) khiến người ta khác biệt, trong khi tình yêu của sự khác biệt (dị tính trong dị tính luyến ái - hetero trong heterosexuality) lại khiến người ta giống nhau.

    Đã có không ít bài viết về việc homophobia trong xã hội phương Tây nhằm vào các giới tính thiểu số, từ các quan điểm tiêu cực về các nhóm này (không hoặc có thể được biểu hiện trực tiếp ra bên ngoài) cho đến sự cách ly, từ chối các quyền công dân, quyền được luật pháp bảo vệ, và trong một số trường hợp, là bạo lực công khai. Lối suy nghĩ tiêu cực đi vào trong nội bộ các nhóm này thường gây nên thiệt hại tinh thần cũng như ảnh hưởng đến quá trình phát triển về mặt tình cảm.

    Homophobia hoạt động dựa trên bốn cấp độ tuy khác nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau: cá nhân, giữa các cá thể, theo thể chế và cả cộng đồng, xã hội.

    Mức độ cá nhân: ám chỉ quan điểm của một cá thể (thành kiến), rằng những người thuộc giới tính thiểu số đáng được thương hại vì là những người kém may mắn, không thể nào kiểm soát được ham muốn bản thân, rằng tâm lí họ không ổn định, cơ chế gen di truyền có sai sót, số phận trớ trêu, rằng sự hiện diện của họ trái khoé với quy luật tự nhiên, rằng họ có tư tưởng bệnh hoạn, bị lây nhiễm lối sống suy đồi, kinh tởm- nói đơn giản, rằng họ thấp kém hơn người dị tính luyến ái.

    Giữa các cá thể: được biểu hiện khi một quan điểm cá nhân lệch lạc, hay một thành kiến, ảnh hưởng lên quan hệ giữa các cá thể, từ đó chuyển thành kiến sang một dạng năng động khác: sự kì thị. Ví dụ về Homophobia giữa các cá thể là việc đặt tên gọi hay "các câu chuyện hài hước" được kể nhằm nhục mạ hay làm giảm giá trị những người (hay nhóm người) thuộc giới tính thiểu số; sự xâm phạm bằng lời lẽ cũng như hành động, đe doạ và hơn nữa là các dạng bạo lực cực đoan; sự không tương trợ hay tẩy chay, bỏ rơi, xua đuổi từ bạn bè, đồng nghiệp và gia đình; việc chủ nhà từ chối cho thuê nhà, chủ cửa hiệu từ chối phục vụ, và những người chủ mướn người dựa trên cơ sở xu hướng giới tính. Và danh sách ấy vẫn còn dài.




    Hàng chữ trên tường: Chúc mừng, bạn không phải là gay Theo một bài điều tra bởi Lực lượng gay và lesbian quốc gia, 90% những người được phỏng vấn thừa nhận bị kì thị, 33% từng bị đe doạ bằng vũ lực: "Hơn 1/5 số nam giới, và gần 1/10 số nữ giới kể lại là đã bị 'đấm, đá, hay đập' và cùng một lượng ấy người bị cảnh sát áp bức. Khoảng 1/10 nam giới và 1/20 nữ giới từng là nạn nhân của những cuộc tấn công có vũ trang. Hầu hết những người từng trải còn bảo các sự cố trên không ngừng tái diễn rất nhiều lần". Chừng 1/3 số người tham gia bị đả kích bằng ngôn từ, trong khi hơn 1/15 bị hành hạ thể xác bởi thành viên của chính gia đình mình.

    Các bản báo cáo về những vụ hành hung les, gay, bi, và người chuyển giới mỗi năm mỗi tăng kể từ khi Lực lượng gay và lesbian quốc gia tiến hành theo dõi, mà số lượng đó cũng chỉ là chóp đầu của tảng băng trôi. Và đương nhiên, chúng không chỉ tập trung ở một số địa phận nhất định; ngược lại, chúng dàn trải theo diện rộng trên toàn bộ đất nước.

    Homophobia theo cấp độ thể chế: ám chỉ phương thức các cơ quan chính phủ, thương mại, giáo dục, tôn giáo kì thị một cách có hệ thống dựa trên xu hướng giới tính. Đôi lúc luật pháp, lệ làng hay quy định lại tiếp sức cho sự kì thị này. Rất ít các cơ quan chức năng ban hành luật ủng hộ giới tính thiểu số, còn lại thì rất nhiều những cơ quan khác tìm cách chống lại không chỉ những người thuộc thành phần thiểu số này mà cả những người tình nguyện giúp đỡ họ.

    Lấy ví dụ giả sử đề luật "Briggs" vào cuối thập kỉ 70 được thông qua, toàn bộ các giáo viên giảng dạy tại California, những người ủng hộ quyền lợi cho giới gay, les và bi sẽ bị mất việc, cho dù họ có thuộc giới tính thiểu số hay không. Quân đội Mỹ trước giờ vẫn giữ nguyên điều lệ bài trừ gay, les và bi ra khỏi đội ngũ. Các giới tính thiểu số cũng không được hưởng những quyền đi kèm với hôn nhân, bao gồm quyền lợi phu thê và trợ cấp cho con cái. Các hành động mang xu hướng đồng tính bị xem là phạm pháp trong một số các tiểu bang. Và mặc dù vài đô thị và tiểu bang nới rộng thêm phạm vi bảo vệ trong các lĩnh vực xã hội như công ăn việc làm, nhà ở, bảo hiểm, tín dụng và giao thông công cộng, nhưng sự tiến bộ vẫn chưa được áp dụng trên cơ chế quốc gia.

    Trước năm 1973, đồng tính luyến ái vẫn bị coi là một biểu hiện rối loạn bất thường. Rất thường xuyên, nhiều người bị buộc phải nhập viện, trải qua nhiều tiến trình "hoàn lương" nguy hiểm, nhục nhã, và cả phẫu thuật não nhằm thay đổi định hướng tình dục của mình. Các tình nhân đồng giới và bạn bè thường bị từ chối cho vào những khu vực cấp cứu đặc biệt do nội quy bệnh viện chỉ cho phép người thân theo huyết thống hay vợ/chồng hợp pháp viếng thăm.

    Ngày nay, dù đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, tâm lí học, bác sĩ y khoa mang tư tưởng rất tiến bộ về thực tiễn của đồng tính luyến ái và lưỡng tính luyến ái, tiếc thay, vẫn còn vài trường hợp cứng nhắc với quan điểm tiêu cực của mình trong chuyện này, và những quan điểm lệch lạc đó lại được biểu hiện thông qua cách đối xử với bệnh nhân.

    Homophobia trên cả cộng đồng (hay xã hội): muốn nói đến những quy tắc cư xử trong xã hội, dù không được công khai trên văn bản hay được quy định thành luật pháp nhưng vẫn luôn tồn tại trong nội bộ cộng đồng nhằm hỗ trợ cho sự áp bức các giới tính thiểu số và được thể hiện trong việc cố gắng bài trừ hình ảnh les, gay, bi và người chuyển giới trên các phương tiện truyền thông, bằng không thì cũng đưa lên các định kiến tiêu cực. Nhà thần học James S. Tinney (1983) đưa ra bảy thể thức có thể của homophobia trên phương diện cộng đồng:

    1, 2. Buộc giới tính thiểu số phải giữ im lặng, cách ly với mọi hình thức văn hoá. Hai thể thức đầu này liên hệ rất gần gũi với nhau. Dù không viết ra trên bề mặt giấy tờ, hầu hết các xã hội thường âm thầm ngăn cấm việc một số lượng lớn các thành viên thuộc một thiểu số nhất định tụ tập tại một nơi nào đó (ví dụ như quán bar hay các trung tâm hoạt động xã hội), khước từ quyền được tổ chức hội họp, không cho phép họ tiếp xúc với nhiều phương tiện vật chất, ngăn ngừa sự hiện diện của họ ở trường học, và cấm triệt để những cuộc thảo luận mang tính thẳng thắn, thành thật và cởi mở liên quan đến quyền lợi những nhóm này.

    Trong những xã hội tồn tại homophobia, vẫn luôn có nhiều cố gắng sửa đổi lịch sử về tình yêu đồng giới thông qua chế độ kiểm duyệt, xoá bỏ, giấu giếm sự thật, và cố tình thay đổi các đại từ nhân xưng ám chỉ giới tính- khiến cho việc thiết lập thông tin chính xác cực kỳ khó khăn. Chính vì vậy, rất nhiều thành phần của giới tính thiểu số lớn lên không hề biết được những gương mẫu đi trước hay hiện tại.

    3. Một định kiến xã hội thường thấy, là người ta luôn là "dị tính luyến ái" cho đến khi "bị chính thức kết tội". Giải nghĩa: một người từ nhỏ cho tới khi chính thức công khai (hay bị phát hiên) xu hướng đồng tính luyến ái, thì người đó được thừa nhận là "dị tính luyến ái"- loại trừ khả năng người ấy có xu hướng tình dục khác.

    4. Một dạng nữa của homophobia xảy ra khi một người đồng tính được bảo là họ không nên định nghĩa mình theo xu hướng tình dục hay giới tính, hay khi họ bị chê trách là "lộ liễu" qua việc thể hiện các hành động âu yếm yêu đương giữa chốn đông người, những hành động mà các cặp bồ bịch "dị tính luyến ái" làm như chuyện thường ngày. Qua đó gửi tới họ bức thông điệp, rằng có gì đó sai trái trong quan hệ giữa họ, xúi giục họ phải sống lén lút và che đậy.

    5. Tạo ra những nơi tụ tập riêng biệt (ví dụ: phố người gay- gay town). Những cá thể hội nhập vào những nơi chốn như thế này để tránh khỏi xu hướng ghê sợ đồng tính của thế giới bên ngoài.

    6. Khuyến cáo chống lại việc các nhóm thiểu số tự đặt tên cho nhóm mình. Trứơc nay, các tên gọi kì thị, lăng nhục thường được nhắm vào những nhóm mục tiêu. Hiện tại, nhóm thiểu số giới tính đã chọn lấy các danh từ định nghĩa (như gay hay lesbian) nhằm miêu tả phương diện cuộc sống cũng như tình ái của mình một cách rõ ràng hơn, biến các danh từ thù địch thành những công cụ hữu ích cho cộng đồng.

    7. Những hình tượng tiêu cực: Việc tạo ra các đặc tính gộp chung- "quơ đũa cả nắm"- cho từng nhóm ngoài mục đích khống chế ra còn cản trở việc các cá nhân muốn tìm hiểu sâu hơn, khả dĩ dẫn đến nhiều sự thay đổi tích cực trong xã hội (Ví dụ: gay thường được xem là luôn khao khát tình dục, hình dạng bề ngoài cũng những người đồng tính thường như thế nào, hay "nguyên nhân có thể" gây ra ham muốn xác thịt của họ)

    Ngoài 4 thể thức homophobia trên của Tinney, nhà tâm lí học Dorothy Riddle (1985) đã đưa ý kiến rằng các khái niệm về khoan dung và chấp nhận cũng nên được kể đến: khoan dung, bỏ qua, vì nó có thể, trên thực tế, được sử dụng như chiếc mặt nạ che giấu nỗi ghê sợ hay căm phẫn (một người bỏ qua, tha thứ cho việc đứa trẻ khóc ầm ĩ trên máy bay, nhưng đồng thời trong lòng cũng mong cho nó ngừng khóc hoặc biến đi nơi khác), còn chấp nhận thì bởi vì người ta hời hợt cho rằng chắc hẳn phải có một cái gì đó trong đồng tình luyến ái cần và nên được chấp nhận.

    Homophobia làm tổn hại đến tất cả mọi người như thế nào?

    Một điều không thể phủ nhận là homophobia, cũng tương tự như các dạng kì thị khác, được dùng như một loại công cụ phục vụ cho nhóm chiếm ưu thế, bằng cách thiết lập và duy trì quyền lực khống chế toàn bộ những ai thuộc nhóm giới tính thiểu số.

    + Homophobia kiềm giữ, xiềng xích tất cả mọi người vào những gương mẫu giới tính cứng nhắc, từ đó làm cản trở khả năng sáng tạo và tự biểu đạt. Suốt quá trình sát nhập vào xã hội, con người bị buộc phải tuân theo những quy định nghiêm khắc về vai trò xã hội dựa trên đặc điểm giới tính của mình. Những thiếu niên lớn lên với vẻ bề ngoài yếu đuối, bất chấp định hướng giới tính của chúng có là gay hay straight (dị tính luyến ái), sẽ dễ dàng trở thành mục tiêu bị bạn bè đồng trang lứa trêu chọc. Hoặc cả nam giới (straight) khi quyết định theo đuổi các con đường sự nghiệp "hơi khác thường" (thợ hớt tóc, thầy dạy nhảy,...) thường gánh chịu sự dèm pha từ dư luận chung quanh.

    + Với homophobia, người dị tính luyến ái nào muốn gìn giữ địa vị ưu thế của mình buộc phải đối xử bất công, tệ hại với những người khác, thực thi những hành động phi nhân tính, trái với nguyên tắc bản thân.




    Từ trên tường mang ý nghĩa thù địch, tẩy chay ĐTLA Frederick Douglass miêu tả cái mà ông gọi là "hiệu quả gây mất tính người" của chế độ nô lệ, không ảnh hưởng riêng gì tầng lớp nô bộc, mà còn với những người da trắng bị nó làm lũng đoạn nhân tính. Cũng dựa trên học thuyết đó, Phillip Brian Harper bàn luận sâu thêm về nhận định của Douglass và nhấn mạnh tính tương đương, sự giống nhau giữa chế độ nô lệ và homophobia.

    + Homophobia ngăn cản con người thiết lập các mối quan hệ gần gũi, thân thiết với các cá thể đồng giới tính.

    Khi còn trẻ, người ta rất dễ tạo các kết nối mật thiết với bạn đồng giới. Tuy nhiên, cho đến khi đạt đến một độ tuổi nhất định nào đó (thường thì vào thời kì dậy thì), người lớn động viên thiếu niên giữ khoảng cách với những người bạn này, thông qua việc ám chỉ rằng nếu không làm thế, giới tính của họ sẽ bị đưa vào vòng nghi vấn. Điều này đồng nghĩa với- đặc biệt là ở phái nam- không còn được ngủ qua đêm tại nhà bạn, không còn chia sẻ cho nhau những bí mật riêng tư, không còn tiếp xúc nhiều với nhau như trước. Dĩ nhiên, hoàn cảnh ấy dẫn đến việc họ bị mất dần khả năng tiếp cận về mặt tình cảm với bạn đồng giới như hồi nhỏ.

    + Homophobia loại trừ giao tiếp giữa cá nhân với một lượng dân số không nhỏ, và nhất là, giới hạn quan hệ giữa các thành viên gia đình.

    Dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, các hộ gia đình vẫn sẽ tiếp tục sản sinh ra những thế hệ gay, les, bi và chuyển giới. Phe cánh tả từng lớn tiếng biện luận, rằng đồng tính luyến ái đang đe doạ tính ổn định của khuôn mẫu gia đình "hạt nhân". Trên thực tế lại chẳng phải vậy, chính homophobia mới là thủ phạm tạo nên bức tường ngăn cách giữa các thành viên gia đình, nới lỏng sợi dây kết nối họ lại với nhau. Con cái, vì sợ phản ứng tiêu cực từ các bậc cha mẹ, giấu nhẹm thông tin quan trọng về cuộc sống mình.

    Phụ huynh, thường không muốn nghe về gì định hướng giới tính của con cái, chẳng bao giờ hoàn toàn hiểu được tâm lí con trẻ. Ngay cả khi hai bên, cha mẹ và con cái, sống dưới cùng một mái nhà, hết bí mật này tới bí mật khác thay phiên nhau chồng chất, tạo nên sự xa lạ dần dà sẽ là "giọt nước làm tràn ly".

    Người thuộc nhóm thiểu số giới tính thường sống trong "cái tủ" tâm lí (chỗ ẩn núp) trước khi thừa nhận xu hướng tình dục với người khác. Đến lúc họ "thổ lộ", lại tới phiên gia đình cùng bạn bè chui vào "cái tủ" của riêng họ, do bởi quan niệm kì thị từ bản thân hoặc từ môi trường. Họ che đậy sự thật không cho bè bạn hoặc làng xóm biết được, thận trọng không để tăm tiếng "bệnh hoạn, bất bình thường" của con cháu bị lọt ra bên ngoài. Thỉnh thoảng, nếu "cây kim bị lòi ra", chính họ cũng trở thành mục tiêu bị tấn công. Trường hợp nào cũng thế, sự mất mát tình thân là rất lớn.

    + Homophobia là nguyên nhân dẫn đến quan hệ tình dục quá sớm, từ đó làm gia tăng khả năng trẻ dưới vị thành niên mang thai cộng thêm sự lan truyền của các căn bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (STDs). Các bạn trẻ, thuộc mọi thành phần giới tính, thường chịu áp lực, muốn chứng tỏ với người khác rằng mình cực kỳ "dị tính luyến ái" và "bình thường".

    + Hậu quả từ homophobia -phối hợp với sexphobia (hội chứng sợ hãi và ghê tởm tình dục)- là sự triệt tiêu các buổi hội thảo về lối sống và vấn đề tình dục của nhóm giới tính thiểu số như một phần của giáo dục giới tính tại trường học, khiến học sinh mất đi cơ hội tiếp xúc với những nguồn thông tin tối quan trọng. Sự thiếu thông tin như thế có thể giết chết con người trong kỉ nguyên AIDS hiện nay.

    Vài nhà lãnh đạo cộng đồng và tôn giáo, những người mang chức sách giáo dục đào tạo, cùng các bậc cha mẹ cổ hũ vẫn luôn gắng hết sức bít bưng mọi thông tin thành thật và không thiên vị về đồng tính luyến ái và lưỡng tính luyến ái- hay nói chung là về giới tính- đến với giới trẻ. Học sinh, bất chấp thuộc vào nhóm giới tính nào, cần các thông tin này để đưa ra quyết định đúng đắn cho hành động tình dục của bản thân. Không có nó, họ bị đẩy vào nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, lây nhiễm STDs và HIV.

    + Homophobia có thể được sử dụng để hạ nhục, tước đi tiếng nói, và, đôi lúc, hãm hại những người bị người khác tưởng lầm hay tin chắc là gay, les, hoặc bi nhưng thật ra lại là dị tính luyến ái.

    Từ khoảng hai thiên niên kỉ nay, ở phương Tây, các bộ luật và điều lệ chống lại giới đồng tính đã được ban hành bởi giới nhà thờ cũng như nhà cầm quyền, tuyên bố các lệnh trừng phạt từ nực cười cho đến bản án tử cho "bị cáo". Những điều luật trên đã được dùng để lên án sự ngược đãi đối với những người bị phát hiện hay bị đồn là dính líu tới tình dục đồng giới. Thế nhưng, chuyện thật sự bị quên lãng hoặc bỏ sót chính là việc các luật này khi thoảng được sử dụng bởi các cá thể và cá chính phủ nhằm thủ tiêu bộ phận chống đối, cho dù họ có thật sự quan hệ tình dục đồng giới hay không.


    Thượng đế ghét lũ gay Luật chống quan hệ tình dục qua hậu môn vẫn còn được giữ nguyên trên sách luật của nhiều tiểu bang. Mặc dù được lập nên chủ yếu với mục đích đàn áp những người đồng tính luyến ái, đã không ít lần chúng được dùng để kết tội các cặp dị tính luyến ái. Gần đây nhất, một tổ chức bảo vệ quyền lợi cho gay, les, bi và người chuyển giới, đã đứng ra biện hộ cho một người đàn ông dị tính luyến ái, độc thân ở tuổi hai mươi sáu, sinh sống ở thành phố New York với một bạn phòng đồng giới, bị xem như gay và từ chối quyền bảo hiểm.

    + Homophobia ngăn không cho người dị tính luyến ái chấp nhận quà tặng hay quyền lợi từ phía giới tính thiểu số: các quan điểm, tầm nhìn về khoa học, tâm linh, đóng góp nghệ thuật, văn hoá, tôn giáo, đời sống gia đình, tóm lại là về mọi mặt xã hội.

    + Homophobia gây hại tới khả năng nhìn nhận tính đa dạng trong xã hội, tạo nên một môi trường không an toàn cho tất cả mọi người vì mỗi một con người là một cá thể với những nét đặc điểm riêng biệt, không ai giống ai.

    + Homophobia phân tán các nguồn năng lượng, tiềm năng ra khỏi những việc làm mang tính xây dựng hơn. Amanda Udis- Kessler lập luận rằng với nhiều vấn đề đang lan tràn khắp hành tinh, làm giảm đi chất lượng cuộc sống của các công dân trên trái đất vào lúc này, homophobia đánh lạc hướng sự chú ý của chúng ta, khiến chúng ta không tập trung vào những nguyên nhân đích thực gây ra các vấn đề trên, mà lại vào những vật thế thân khác.


    Tại sao lại phải nghiên cứu đề tài này?

    Theo tôi, những câu hỏi liên quan đến việc mỗi người chúng ta cùng chịu ảnh hưởng bởi homophobia- nói một cách tổng quá hơn là bất kì mọi sự áp bức nào- khá thú vị và quan trọng. Trong quá trình thực hiện cuốn sách, tôi nhận được nhiều lời ủng hộ từ phía bạn bè và những người quen biết thuộc mọi thành phần giới tính. Cũng nên thừa nhận, rằng một vài người tôi được dịp nói chuyện với, đã không tiếp nhận nó niềm nở như dự kiến. Lý lẽ của họ có thể đựơc tóm gọn lại bằng "Tại sao lại lãng phí thời gian, công sức phân tích vì sao homophobia tổn hại giới dị tính luyến ái? Để họ tự nhận thức lấy! Ngoài ra, những kẻ dị tính luyến ái đấu tranh vì quyền lợi người đồng tính chỉ muốn được nổi tiếng và có thêm nhiều quyền lợi ưu tiên".

    Những mối quan tâm đó mang tính gượng ép, bó buộc và khả dĩ có thể hiểu được, nhưng tôi tin rằng qua việc khám phá ra ảnh hưởng từ homophobia lên mọi tầng lớp xã hội sẽ giúp chúng ta khuyên giảm bớt- xét theo mặt lâu dài không chừng sẽ chấm dứt được- sự áp bức theo nhiều cấp độ. Bằng cách nào? Sau khi đã dẫn giải mặt tiêu cực của chế độ áp bức, kì thị đối với cả hai phía, chúng ta khoanh vùng trọng điểm rằng công cuộc đấu tranh chống lại nó tuỳ thuộc vào ý muốn cá nhân mỗi con người. Đường lối này là cần thiết nhằm khuyến khích các thành viên thuộc nhóm thống trị đang phân vân không biết liệu có nên phòng chống homophobia hay không. Hơn nữa, nó cũng ủng hộ những người đã và đang hoạt động giành lại quyền lợi công bằng cho giới gay, les, bi và chuyển giới- đồng thời cũng giúp nhóm ưu thế bớt đi lối suy nghĩ, hành động cực đoan.

    KẾT LUẬN:

    Phương hướng của bản nghiên cứu này là cảnh báo với người đọc rằng tất cả chúng ta đều được sinh ra trong một sự ô nhiễm với tên gọi homophobia (một trong số nhiều dạng đàn áp khác), và nó đang rơi xuống đầu chúng ta như mưa axít. Với vài người thì tinh thần bị tổn hại đến tận cốt lõi, những người khác thì bị sây xát ngoài mặt, nhưng không một ai thoát khỏi nó. Nhưng lỗi lầm không phải do chúng ta. Chúng ta không tài nào kiểm soát được cơ chế hình thành sự ô nhiễm này, càng không cố tình hướng mọi nguy hại về hướng mình.

    Mặt khác, toàn bộ chúng ta đều mang trên người trách nhiệm, cũng như cơ hội, cùng chung vai sát cánh bên nhau dựng nên thành luỹ ngăn ngừa hậu quả của nó, và đồng thời cũng tìm cách làm trong sách môi trường mình đang sống. Một khi các giải pháp chống ô nhiễm cần thiết đã được hoàn tất, ta sẽ lại được hô hấp một cách dễ dàng, dễ chịu hơn.


    Warren J. Blumenfeld
    Vũ Huy Lân chuyển dịch

Portal by DevFuse · Based on IP.Board Portal by IPS
×